Ly hôn khi có hai con – Quyền nuôi con thuộc về ai?

Hai vợ chồng ly hôn khi có hai con thì quyền nuôi con sẽ thuộc về ai? Đây là câu hỏi được nhiều người thắc mắc khá nhiều. Dưới đây là câu hỏi của một bạn đọc được Luật TDV trả lời chi tiết nhất:

Chị Hiền (Thanh Xuân) gửi câu hỏi cho Luật TDV: Chào Luật sư, tôi lấy chồng tại quận Thanh Xuân. Hai vợ chồng tôi lấy nhau được 6 năm và có 2 cháu: cháu lớn được hơn 4 tuổi còn cháu bé 2 tuổi. Dạo gần đây, vợ chồng tôi thường xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải được. Xin cho tôi hỏi: Nếu tôi và chồng ly hôn thì quyền nuôi 2 con sẽ thuộc về ai? Xin cảm ơn Luật sư.

Trả lời:

Chào bạn

Căn cứ vào điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

  1. Vợ, chồng hoặc đồng thời cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

  2. Những người thân trong gia đình như cha mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng mắc bệnh tâm thần không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

  3. Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

  1. Nếu vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn mà Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn. Căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Làm cho hôn nhân gia đình lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

  2. Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết cho việc ly hôn.

  3. Dựa vào khoản 2 Điều 51 nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ, bằng chứng về việc chồng hoặc vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Bạn hoàn toàn có quyền đơn phương ly hôn với người chồng dựa vào những quy định trên mà không cần sự đồng ý của người chồng đó. Bạn có quyền làm đơn ly hôn theo nguyện vọng, mong muốn, yêu cầu của bản thân.

ly hôn khi có hai con

Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

  1. Sau khi được Tòa giải quyết ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Hoặc con đã đủ tuổi thành niên nhưng không có năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

  2. Vợ, chồng sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Nếu hai vợ chồng không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên sẽ xem xét dựa vào nguyện vọng của con.

  3. Đối với con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi. Chỉ trừ trường hợp người mẹ không có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Khi ly hôn, vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con cũng như quyền, nghĩa vụ mỗi bên đối với con.

Trường hợp nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ theo quy định pháp luật. Nếu con dưới 3 tuổi (36 tháng tuổi) được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, chỉ trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Đối với các trường hợp con từ 3 tuổi (36 tháng tuổi) đến dưới 7 tuổi thì Tòa án sẽ xem xét, dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định ai là người chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp cho con. Người còn lại sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con.

Đối với trường hợp của bạn, một người con 2 tuổi sẽ được giao cho bạn là người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trừ khi bạn là người không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Đối với người con hơn 4 tuổi, Tòa án xem xét dựa trên các điều kiện của 2 vợ chồng. Nếu thấy ai là người có thể nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm quyền lợi của con tốt hơn sẽ giao quyền cho người đó.

Bạn có thể được Tòa án giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cả 2 con nếu Tòa án xem xét thấy bạn đủ khả năng, điều kiện. Chồng bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng giúp bạn nuôi con.

>> Bài viết liên quan: Ly hôn đơn phương mất bao nhiêu thời gian?

Tòa sẽ dựa vào các yếu tố, điều kiện sau đây để xem xét trao quyền nuôi con:

– Điều kiện về cơ sở vật chất bao gồm: Sinh hoạt, ăn, ở, điều kiện học tập… mà mỗi bên dành cho con, yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

– Các yếu tố đảm bảo về tinh thần bao gồm: Thời gian dạy dỗ, giáo dục con, chăm sóc, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha hoặc mẹ đối với con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

  1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nhưng phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

  2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nhưng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Như vậy, nếu không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên. Hoặc đối với con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, mất khả năng lao động và không thể tự nuôi mình.

Mức cấp dưỡng nuôi con được quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

  1. Mức cấp dưỡng sẽ được người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Dựa vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là con. Nếu hai vợ chồng không thể tự thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng. Việc thay đổi mức cấp dưỡng cũng do hai bên tự thỏa thuận, nếu không tự thỏa thuận được, quyết định sẽ được Tòa án đưa ra.

Pháp luật Việt Nam không quy định mức cấp dưỡng cụ thể là bao nhiêu. Mức cấp dưỡng sẽ  căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Đồng thời cũng dựa vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý.

Trên đây là những nội dung tư vấn, chia sẻ những vấn đề thắc mắc về ly hôn khi có hai con. Nếu còn thắc mắc xin mời liên hệ với Tư vấn Luật TDV theo số 0902 703 073 hoặc 0978 463 987.

>> Đọc ngay: Vợ chồng ly hôn rồi kết hôn lại thủ tục như thế nào?

Bình Luận

Bình Luận

Đánh giá bài viết