Tư vấn về giải quyết những tranh chấp khi ly hôn

Khi ly hôn thì việc yêu cầu giải quyết những tranh chấp khi ly hôn: về quyền nuôi con và tài sản chung là vấn đề rất khó tránh khỏi. Tuy nhiên mọi người cần hiểu rõ quyền và lợi ích của mình trước khi đưa ra yêu cầu nhằm đảm bảo quyền lợi và tránh những yêu cầu trái quy định, nội dung này được luật sư tư vấn cụ thể như sau:

Thông qua tổng đài trực tuyến 0902 703 073 – 0978 463 987

Luật sư tư vấn ly hôn và giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình( tranh chấp trong ly hôn): tư vấn về tranh chấp về tài sản riêng và tài sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng để nuôi con và những vấn đề khác liên quan đến ly hôn.

Bạn chỉ cần nhấc điện thoại và gọi tới số 0902 703 073 – 0978 463 987 sau khi kết nối với luật sư bạn sẽ được luật sư của TDV sẽ tư vấn, và giải đáp pháp luật về Hôn nhân gia đình như: Kết hôn, ly hôn, tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con… hướng dẫn thủ tục hành chính hôn nhân gia đình và giải đáp các vấn đề khác liên quan:

tranh chấp khi ly hôn

Thứ nhất: Tranh chấp khi ly hôn – Quan hệ pháp luật về con chung được quy định như sau:

– Sau khi ly hôn, thì cả cha và mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con khi đã đến tuổi thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc là đã không có khả năng lao động và không có tài sản để có thể tự nuôi bản thân mình theo quy định của Luật HNGD năm 2014, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Vợ và chồng sẽ có thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ với con, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không tự thỏa thuận được thì Tòa án nhân dân sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi và việc này sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con đã đủ 07 tuổi trở lên thì bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi con, còn đối với trường hợp mà người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom con, chăm sóc cho con,  nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có những thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

– Cha hoặc mẹ người mà không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con; sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con sẽ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được phép cản trở.

Cha, mẹ người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây những ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con sẽ có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

– Cha, mẹ người được quyền trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện tất cả các nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng với những thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Cha, mẹ người trực tiếp nuôi con cùng với các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom con cái, chăm sóc và nuôi dưỡng cũng như giáo dục con.

– Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Phải có những căn cứ sau thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con mới  được giải quyết:

  1. a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với những lợi ích của con;
  2. b) Người trực tiếp nuôi con đã không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu như con đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con .

Nếu xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con thì Tòa án nhân dân quyết định giao con cho người giám hộ theo đúng quy định của Bộ luật dân sự.

Thứ hai: Tranh chấp khi ly hôn về Quan hệ về tài sản

– Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ và chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do vợ và chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án nhân dân sẽ giải quyết theo quy định của bộ Luật Hôn nhân gia đình 2014.

– Trong trường hợp hai vợ chồng tự thỏa thuận được về tài sản thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo đugs thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận đó mà không đầy đủ, và không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, khoản 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, điều 61, điều 62, 63 và điều 64 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 để giải quyết.

– Tài sản chung của vợ và chồng sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  1. a) Hoàn cảnh  gia đình và của vợ, chồng;
  2. b) Công sức đóng góp của vợ và chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ và chồng trong gia đình được coi như là lao động có thu nhập;
  3. c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  4. d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

– Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên còn lại phần chênh lệch.

– Tài sản riêng của vợ, tài sản riêng của chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

– Trong trường hợp có sự sáp nhập và  trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đã đóng góp vào khối tài sản chung đó, trừ trường hợp vợ chồng có những thỏa thuận khác.

–  Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, của con khi chưa thành niên, con đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc là không có khả năng lao động và không có tài sản để có thể tự nuôi bản thân mình.

–  Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ hoặc chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác. Trong trường hợp có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, điều 37 và điều 45 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 và những quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Lưu ý: Chúng tôi cho rằng ly hôn chính là giải pháp cuối cùng trong đời sống vợ chồng khi các giải pháp khác đã không còn tác dụng. Vì vậy, bạn hãy liên hệ ngay với Luật sư tư vấn ly hôn hoặc những người am hiểu và có kiến thức trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình để được tư vấn và hỗ trợ các vấn đề pháp lý cần thiết trước khi đưa ra quyết định cuối cùng đồng thời sẽ giúp bạn tiến hành những thủ tục cần thiết một cách chính xác và nhanh gọn nhất.

>>> Xem thêm: Luật sư tư vấn ly hôn miễn phí

Bình Luận

Bình Luận

Đánh giá bài viết